Hơn 2 triệu USD hỗ trợ giảm tỷ lệ tử vong thai phụ người dân tộc thiểu số

24/09/2021 16:38
Ảnh minh hoạ: TTXVN

Ảnh minh hoạ: TTXVN

Trong số các ca tử vong mẹ tại khu vực Trung du và Miền núi phía Bắc, phụ nữ thuộc nhóm dân tộc thiểu số dễ bị tổn thương chiếm tỷ lệ rất cao, như tỷ lệ tử vong mẹ ở các bà mẹ là người dân tộc Mông cao gấp 7 lần so với phụ nữ dân tộc Kinh.

Việt Nam đã đạt được tiến bộ đáng kể trong việc cải thiện sức khỏe sinh sản và sức khỏe tình dục của người dân trong vòng 20 năm qua, và là một trong sáu quốc gia trên thế giới đạt được Mục tiêu Phát triển Thiên niên kỷ số 5 (MDG5) về giảm tình trạng tử vong mẹ vào năm 2015.

Tuy nhiên, vẫn còn tồn tại sự chênh lệch và bất bình đẳng trong việc tiếp cận và sử dụng các dịch vụ chăm sóc sức khỏe sinh sản và sức khỏe tình dục giữa các dân tộc và vùng miền. Các bằng chứng hiện tại cho thấy, mặc dù tỷ lệ tử vong mẹ ở cấp quốc gia đã giảm xuống còn 46 ca tử vong trên 100.000 trẻ đẻ sống, nhưng tỷ lệ này vẫn ở mức cao với 100-150 ca tử vong trên 100.000 trẻ đẻ sống ở các vùng miền núi và vùng dân tộc thiểu số, đặc biệt là ở khu vực Trung du và miền núi phía Bắc và khu vực Tây Nguyên.

Trong số các ca tử vong mẹ tại khu vực Trung du và Miền núi phía Bắc, phụ nữ thuộc nhóm dân tộc thiểu số dễ bị tổn thương chiếm tỷ lệ rất cao, như phụ nữ dân tộc Hmông chiếm 60% và phụ nữ dân tộc Thái chiếm 17%. Tại khu vực này, tỷ lệ tử vong mẹ ở các bà mẹ là người dân tộc Hmông cao gấp 7 lần so với phụ nữ dân tộc Kinh.

Hơn một nửa số ca tử vong mẹ xảy ra tại các bệnh viện tuyến huyện và tỉnh do năng lực quản lý các biến chứng thai sản của các cơ sở y tế vẫn còn hạn chế. Ngoài ra, vị trí địa lý xa xôi, khó tiếp cận, điều kiện kinh tế - xã hội khó khăn, rào cản văn hóa và hiểu biết hạn chế về các biến chứng thai sản cũng là những nguyên nhân khiến tỷ lệ tử vong mẹ gia tăng.

Kể từ năm 2020 đến nay, đại dịch COVID-19 đã khiến sự bất bình đẳng vốn đã tồn tại càng trầm trọng thêm và gây ảnh hưởng đặc biệt đến các nhóm dân số dễ bị tổn thương, đặc biệt là phụ nữ và trẻ em gái nói chung, bà mẹ mang thai vùng dân tộc thiểu số nói riêng.

Phân tích mô hình của Quỹ Dân số Liên hợp quốc (UNFPA) ước tính, dịch Covid-19 trong 3 tháng đầu năm 2020 làm tăng tỷ lệ tử vong mẹ từ 44 đến 65% trong năm 2020 tại Việt Nam. Điều này có nghĩa là Việt Nam có thêm 298-443 bà mẹ tử vong do mang thai và sinh con trong năm này.

Covid-19 có thể khiến Việt Nam có thêm 400 thai phụ tử vong/năm  - Ảnh 1.

Mạng lưới cô đỡ thôn bản ở các vùng dân tộc thiểu số, vùng sâu, vùng xa. Nguồn: TTXVN

6 tỉnh khó khăn nhất Việt Nam được can thiệp ngăn chặn tình trạng tử vong mẹ

"Chúng tôi rất quan ngại về vấn đề này vì nó sẽ đảo ngược những thành tựu phát triển mà Việt Nam đã đạt được trong nhiều thập kỷ qua trong lĩnh vực sức khỏe sinh sản và sức khỏe tình dục" - Thông cáo của UNFPA trích dẫn.

Trước tình hình này, UNFPA đã triển khai dự án "Không để ai bị bỏ lại phía sau: Các can thiệp đổi mới sáng tạo nhằm giảm tình trạng tử vong mẹ tại các vùng dân tộc thiểu số tại Việt Nam" ở 6 tỉnh Bắc Cạn, Lai Châu, Sơn La, Đắc Nông, Kon Tum và Gia Lai. Dự án được triển khai trong giai đoạn từ 1/9/2021 đến 30/9/2024 với tổng số tiền tài trợ lên đến 2.010.000 USD.

Mục tiêu của dự án nhằm tăng cường khả năng tiếp cận và sử dụng các dịch vụ chăm sóc sức khỏe sinh sản và sức khỏe tình dục toàn diện, có chất lượng và tự nguyện cho đồng bào dân tộc thiểu số; nâng cao năng lực quản lý cấp cứu sản khoa ở các khu vực miền núi; và xây dựng mạng lưới cô đỡ thôn bản ở các vùng dân tộc thiểu số, vùng sâu, vùng xa. Đặc biệt, dự án còn bao gồm cả các can thiệp chăm sóc sức khỏe từ xa.

Dự án được ký kết giữa UNFPA tại Việt Nam, Merck Sharp & Dohme – MSD HH tại Việt Nam - công ty dược phẩm sinh học hàng đầu thế giới và quĩ MSD cho các bà mẹ (MSD for Mothers).  UNFPA sẽ phối hợp thực hiện dự án với Bộ Y tế, Sở Y tế sáu tỉnh dự án và các tổ chức xã hội dân sự trong nước.

Ý kiến của bạn
(*) Nội dung bắt buộc cần có
bình luận
Xem thêm bình luận

Nhập thông tin của bạn